BHXH tỉnh Tây Ninh trả lời như sau:
1. Về việc bạn hỏi nghỉ việc như vậy có trái với quy định của pháp luật lao động hay không:
Bạn nên xem lại những điều khoản trong hợp đồng lao động đã ký với Công ty và vấn đề này bạn liên hệ với ngành Lao động thương binh & Xã hội để được hướng dẫn.
2. Quyết định thôi việc có đủ điều kiện để hưởng BHTN không:
Theo quy định Điểm a, Khoản 1, Điều 49 Luật Việc làm quy định người lao động đang đóng BHTN sẽ không được hưởng trợ cấp BHTN khi: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật.
Do không rõ về chi tiết hợp đồng lao động của bạn như thế nào, vấn đề này bạn liên hệ với Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Tây Ninh để được hướng dẫn chi tiết.
3. Về bảo lưu thời gian BHTN
Căn cứ tại quy định của khoản 4 điều 53 Luật Việc làm 2013, quy định về các trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau:“ Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.
Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng BHTN trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng BHTN”.
Như vậy, trường hợp chưa hưởng BHTN thì được bảo lưu theo quy định và không giới hạn thời gian bảo lưu.
Chào bạn !
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời câu hỏi của bạn như sau:
1. Người lao động nghỉ việc như vậy là trái với quy định pháp luật
Tại khoản 1 Điều 35 và Điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không được trợ cấp thôi việc.
2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”
Như vậy, căn cứ vào quy định trên nếu người lao động muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải tuân thủ thời gian báo trước, trường hợp không tuân thủ thời gian báo trước thì bị xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
2. Người lao động không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp, nhưng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vẫn được bảo lưu
Tại khoản 1 Điều 49 Luật việc làm năm 2013 quy định:
“Điều 49. Điều kiện hưởng
Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;”
Như vậy, căn cứ vào quy định trên nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được bảo lưu và nếu sau này chấm dứt hợp đồng lao động, đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ bao gồm toàn bộ thời gian mà người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Trân trọng./.